CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Họ và tên: Chủ tịch Hồ Chí Minh – tên lúc nhỏ là Nguyễn Sinh Cung, tên khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng trước đây lấy tên là Nguyễn Ái Quốc

Ngày sinh: 19/5/1890

Ngày mất: 2/9/1969

Quê quán: xã Kim Liên (làng Sen), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

Chức vụ:
– Chủ tịch Đảng từ 2/1951 đến 9/1969
– Tổng Bí thư từ 10/1956 đến 9/1960
– Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ 1/1946 đến 9/1969
– Chủ tịch nước kiêm Thủ tướng Chính phủ từ 11/1946 đến 9/1955

TÓM TẮT QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC

– 5/6/1911: Người rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước

– 1912-1917: Với tên gọi Nguyễn Tất Thành, Người đến nhiều nước ở châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, sống hoà mình với nhân dân lao động

– 1917: Người từ Anh trở lại Pháp, hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp

– 1919: Lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Người đã gửi tới Hội nghị Vécxây (Versailles) bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam và cũng là quyền tự do cho nhân dân các nước thuộc địa

– 12/1920: Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp và bỏ phiếu tán thành Đảng gia nhập Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản), trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp

– 1921: Người tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa Pháp

– 1922: Người xuất bản báo “Người cùng khổ” (Le Paria)

– 6/1923: Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô, làm việc tại Quốc tế Cộng sản

– 10/1923: Tại Hội nghị Quốc tế Nông dân lần thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc được bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân và là đại biểu duy nhất của nông dân thuộc địa được cử vào Đoàn Chủ tịch của Hội đồng

– 6 và 7/1924: Người tham dự Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản, Đại hội Quốc tế Thanh niên lần thứ IV, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ.

– 11/1924: Người đến Quảng Châu (Trung Quốc) với tư cách là Ủy  viên Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản và Ủy viên Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân

– 6/1925: Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, trực tiếp mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ cách mạng, ra tuần báo “Thanh niên”, tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về Việt Nam, chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện được tập hợp in thành sách “Đường Kách mệnh” –  một văn kiện lý luận quan trọng đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối cách mạng Việt Nam

– 5/1927: Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu đi Mátxcơva (Liên Xô), từ Liên Xô đi Pháp, rồi đi Bỉ tham dự cuộc họp Đại hội đồng Liên đoàn chống đế quốc, sau đó đi Đức, Ý và từ đây về châu Á

– 7/1928 – 11/1929: Nguyễn Ái Quốc hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước ở Xiêm (Thái Lan), tiếp tục chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam

– từ ngày 3 đến 7/2/1930: Người chủ trì Hội nghị thành lập Đảng họp tại Cửu Long (Hồng Kông, Trung Quốc). Hội nghị đã nhất trí về việc hợp nhất Đảng, tán thành lấy tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị đã thông qua những văn kiện chính thức của Đảng: Chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt.. do Người soạn thảo

– 6/1931: Người bị chính quyền Anh bắt giam tại Hồng Kông. Cuối năm 1932, Người được trả tự do

– 1934-1938: Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc thuộc địa tại Mátxcơva (Liên Xô). Kiên trì con đường đã xác định cho cách mạng Việt Nam, Người tiếp tục theo dõi, chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước

– 10/1938: Người rời Liên Xô sang Trung Quốc, bắt liên lạc với tổ chức Đảng chuẩn bị về nước

– 28/1/1941 : Nguyễn Ái Quốc về nước sau hơn 30 năm xa Tổ quốc

– 5/1941: Người về nước triệu tập Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, thành lập “Việt Nam độc lập đồng minh Hội” (Việt Minh), tổ chức lực lượng vũ trang giải phóng, xây dựng căn cứ địa, lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa từng phần và Tổng khởi nghĩa giành Chính quyền trong cả nước

– 8/1942: Lấy tên là Hồ Chí Minh, Người đại diện cho Mặt trận Việt Minh và Phân hội Việt Nam thuộc Hiệp hội Quốc tế chống xâm lược sang Trung Quốc tìm sự liên minh quốc tế, cùng phối hợp hành động chống phát xít trên chiến trường Thái Bình Dương. Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam trong các nhà lao của tỉnh Quảng Tây. Trong thời gian một năm 14 ngày bị tù, Người đã viết tập thơ “Nhật ký trong tù” với 133 bài thơ chữ Hán

– 9/1943: Người được trả tự do

– 9/1944: Người trở về Pác Bó (Cao Bằng)

– 12/1944: Người chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam

– 5/1945: Người rời Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang)

– 8/1945: Theo đề nghị của Người, Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc dân đã họp quyết định Tổng khởi nghĩa. Đại hội Quốc dân đã bầu ra Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Người cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi

– 2/9/1945: Tại Quảng trường Ba Đình, Người đọc “Tuyên ngôn độc lập” tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

– 1/1/1946: Chính phủ liên hiệp lâm thời được thành lập do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao

– 1/1946: Quốc hội khóa I bầu Người là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

– 2/3/1946: Chính phủ liên hiệp kháng chiến được thành lập do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch

– 3/11/1946: Chủ tịch Hồ Chí Minh được Quốc hội giao nhiệm vụ thành lập Chính phủ mới do Người làm Chủ tịch nước kiêm Thủ tướng Chính phủ (từ 11/1946 đến 9/1955) và kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (từ 11/1946 đến 1947)

– 19/12/1946: Người ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc

– 1951: Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (Đảng ra công khai lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam), Người được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược đã giành được thắng lợi to lớn, kết thúc bằng chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ (7/5/1954)

– 1955: Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước

– 10/1956: Tại Hội nghị Trung ương mở rộng lần thứ X (khóa II), Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng, kiêm làm Tổng Bí thư của Đảng

– 9/1960: Tại Đại hội Đảng lần thứ III, Người được bầu lại làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam

– 7/1960 –  9/1969: Người được bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa II và khóa III

– 2/9/1969: Chủ tịch Hồ Chí Minh mất tại Hà Nội

– 1990: Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Người – Chủ tịch Hồ Chí Minh được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) tôn vinh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất.